Xây dựng Dự thảo liên quan đến cơ chế điều hành giá về kinh doanh xăng dầu – Tin tức kinh doanh mới hôm nay.

Có phải bạn đang muốn tìm những bản tin kinh tế, kinh doanh hữu ích phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay sau đây nhé.

taisao.info xin cung cấp đến các bạn bài viết chủ đề Xây dựng Dự thảo liên quan đến cơ chế điều hành giá về kinh doanh xăng dầu trong chuyên mục kinh doanh, mời bạn xem ngay tại đây nhé.

Xây dựng Dự thảo liên quan đến cơ chế điều hành giá về kinh doanh xăng dầu | Bảng tin kinh tế mỗi ngày.

Hình minh họa. Nguồn: internet.

Nội dung chính của cơ chế điều hành giá xăng dầu sửa đổi bao gồm: Về cơ chế điều phối, kiểm soát giá; Thời gian quản lý giá; Công thức tính giá cơ bản:

Về cơ chế phối hợp quản lý giá xăng dầu

Cơ chế phối hợp giữa hai Bộ hiện nay theo hình thức thông tư liên tịch không còn phù hợp với các quy định hiện hành của Luật Công bố văn bản quy phạm pháp luật.

Do đó, đề xuất đã xem xét các quy định về phân bổ nhiệm vụ và cơ chế phối hợp giữa Bộ Công Thương và Bộ Tài chính để phù hợp với thực tế, cụ thể:

+ Bộ Công Thương chịu trách nhiệm chính trong việc điều hành, điều hành giá bán xăng, dầu diesel với Bộ Tài chính và sẽ phối hợp, thành lập và sử dụng kinh phí từ Quỹ Bình ổn giá xăng dầu (BOG). Mức trích lập và chi sử dụng HĐMBĐ tại thời điểm công bố giá cơ sở thực hiện theo sự thống nhất của Bộ Tài chính. Nếu còn ý kiến ​​khác nhau, Bộ Công Thương quyết định và chịu trách nhiệm; nếu cần, liên hệ với Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Công Thương có trách nhiệm công bố các nội dung: giá xăng dầu thế giới, giá dầu gốc, giá xăng tối đa hiện hành; thời điểm sử dụng, số tiền trích lập, số tiền sử dụng quỹ BOG trong kỳ điều hành giá xăng dầu; các biện pháp khác.

Trường hợp linh kiện cơ bản có biến động làm tăng giá cơ bản trên 10% (> 10%) so với trước đó, Bộ Công Thương có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. .

+ Bộ Tài chính chủ trì phương pháp xác định các yếu tố hình thành giá cơ sở; chỉ đạo việc quản lý, thành lập, trích lập và sử dụng quỹ dầu BOG; kiểm soát, giám sát việc thực hiện các quy định của quỹ BOG dầu ‘, kiểm soát, giám sát thương nhân đầu mối thực hiện các quy định tại Điều 37 Nghị định này; Phối hợp với Bộ Công Thương rà soát, giám sát các thương nhân, nhà phân phối đầu mối trong việc thực hiện các quy định tại Điều 38 Nghị định này.

Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố số dư quỹ dầu BOG hàng quý trên trang web của Bộ Tài chính; kiểm tra, giám sát việc thực hiện trích lập quỹ BOG của thương nhân đầu mối.

+ Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp chịu trách nhiệm chính đối với các Bộ, ngành có liên quan trong lĩnh vực kiểm soát đo lường, chứng nhận an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với loại giàn khoan dầu nhỏ.

Về thời điểm điều hành giá xăng dầu

Theo quy tắc hiện tại là 15 ngày, được sửa đổi thành 10 ngày. Cụ thể, đó là thời điểm kiểm tra giá xăng dầu vào các ngày 1, 11 và 21 hàng tháng. Đối với thời gian hoạt động trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ thì lùi thời gian hoạt động đến ngày làm việc tiếp theo sau ngày nghỉ, ngày lễ. Đối với thời gian biểu diễn trùng vào dịp Tết Nguyên đán thì lùi thời gian hoạt động sang kỳ sau.

Trường hợp giá thành phẩm dầu có biến động bất thường, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế – xã hội và đời sống của nhân dân, Bộ Công Thương có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Về công thức tính giá cơ sở thành phẩm xăng dầu

Do cơ cấu nguồn cung dầu trong nước có sự thay đổi, lấy nguồn sản xuất trong nước là chính nên công thức tính giá cơ sở được sửa đổi theo hướng dựa trên yếu tố chi phí được tạo ra từ hai nguồn trong nước. Các nhà nhập khẩu và các nước cơ cấu lại mặt bằng giá chung theo tỷ trọng nguồn lực cụ thể trong từng thời kỳ, làm cơ sở cho việc điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu trong nước. Về công thức giá cơ sở như sau:

– Giá dầu thô cơ bản được xác định (=) Giá dầu thô từ nguồn nhập khẩu nhân (x) tỷ trọng (%) trong sản lượng nhập khẩu cộng (+) Giá dầu thô từ nguồn sản xuất trong nước nhân (x) tỷ trọng (%) sản lượng dầu thô từ tài nguyên trong nước. Phía trong:

Các khoản chi phí tính thuế để tính giá cơ sở của xăng dầu theo quy định tại Nghị định này chỉ áp dụng cho việc tính giá cơ sở của xăng dầu.

Tỷ lệ (%) sản lượng dầu khai thác từ các nguồn trong nước và nhập khẩu trong tính giá cơ sở được xác định theo quý; Tỷ trọng sản lượng của quý trước được sử dụng để tính giá cơ sở cho các kỳ điều hành giá cơ sở tiếp theo của quý sau.

Hàng quý, căn cứ số liệu nhập khẩu xăng, dầu điêzen do Bộ Tài chính cung cấp và báo cáo tình hình bán dầu thô trong nước của thương nhân kinh doanh xăng dầu, cơ quan quản lý giá xăng dầu đã tính toán dầu thô và xác định tỷ trọng (%) sản lượng dầu thô khai thác từ nguồn trong nước và nhập khẩu.

– Giá dầu thô từ nguồn nhập khẩu được xác định theo (=) giá xăng dầu thế giới cộng (+) chi phí vận chuyển dầu thô từ nước ngoài đến cảng Việt Nam cộng (+) chi phí thương mại được định giá cộng (+) mức trích Quỹ bình ổn xăng dầu cộng (+) tiêu chuẩn lợi nhuận cộng (+) Chi phí thuế (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), thuế môi trường (nếu có), thuế giá trị gia tăng), phí và các khoản khấu trừ khác theo quy định với luật hiện hành.

Phía trong:

+ Giá dầu thế giới do Bộ Công Thương cập nhật và quy định theo nguyên tắc bình quân số ngày giữa hai lần công bố giá cơ sở của giá dầu thành phẩm thực tế giao dịch trên thị trường Singapore.

+ Chi phí vận chuyển dầu từ nước ngoài đến cảng Việt Nam (bao gồm cả phí bảo hiểm cộng (+) hoặc trừ (-) là yếu tố điều chỉnh giá trong hợp đồng nhập khẩu dầu, chi phí bảo hiểm, chi phí vận tải và các chi phí bổ sung có thể có khác; được xác định bởi Bộ Tài chính căn cứ theo phương pháp bình quân gia quyền theo lượng xăng, dầu nhập khẩu, báo cáo Bộ Công Thương để áp dụng trong công thức giá cơ sở. Bộ Tài chính kiểm tra, điều chỉnh chi phí nhập khẩu xăng dầu từ nước ngoài về cảng Việt Nam 6 tháng một lần (trừ khi có biến động bất thường).

+ Giá tính thuế nhập khẩu xăng dầu được xác định trên cơ sở thuế suất thuế nhập khẩu bình quân gia quyền căn cứ vào sản lượng dầu nhập khẩu nhân (x) với trị giá (giá xăng dầu thế giới + chi phí vận chuyển dầu từ nước ngoài đến cảng Việt Nam) bằng cách nhân (x) với tỷ giá hối đoái. Trong đó căn cứ tính giá cơ sở của quý sau một năm là thuế suất thuế nhập khẩu bình quân gia quyền do Bộ Tài chính quy định hàng quý và thuế suất thuế nhập khẩu bình quân gia quyền (%) của quý trước. Tỷ giá hối đoái tuân theo quy định tại Điều 9 của Nghị định số. 59/2018 / NĐ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2018 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế.

Thuế suất thuế nhập khẩu bình quân gia quyền (%) do Bộ Tài chính xác định trên cơ sở lượng dầu nhập khẩu (từ tháng thứ 21 trước tháng đầu quý đến ngày 20 tháng cuối quý) và thông báo cho Bộ . ngành công thương áp dụng chi phí nhập khẩu trong công thức tính giá xăng dầu từ nguồn nhập khẩu.

Chi phí thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) được xác định trên cơ sở giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt nhân (x) với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt. Trong trường hợp này, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định trên cơ sở các yếu tố hình thành giá cơ sở do Bộ Tài chính quản lý để tính toán và sử dụng trong công thức tính giá cơ sở cho Bộ Công Thương. Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt.

Các chi phí về thuế môi trường, thuế giá trị gia tăng, phí và các khoản khấu trừ khác được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.

+ Chi phí kinh doanh điều tiết và lợi nhuận điều tiết do Bộ Tài chính xác định và công bố hàng năm để Bộ Công Thương sử dụng trong công thức tính giá cơ sở xăng dầu.

+ Mức trích lập Quỹ bình ổn giá phù hợp với thông báo của Bộ Công Thương sau khi có ý kiến ​​thống nhất của Bộ Tài chính tại thời điểm công bố giá cơ sở.

Giá dầu từ nguồn trong nước bao gồm các yếu tố và được xác định bằng (=) giá dầu thế giới cộng (+) hoặc trừ (-) phí bảo hiểm (nếu có) cộng (+) chi phí vận chuyển xăng dầu từ các nhà máy lọc dầu trong nước đến cảng (nếu có) cộng (+) chi phí kinh doanh cộng (+) mức trích quỹ bình ổn giá xăng dầu + lợi nhuận ước tính cộng (+) chi phí thuế phí, các khoản nộp và các khoản giảm trừ khác theo quy định của pháp luật.

Phía trong:

+ Phí bảo hiểm tính giá xăng dầu từ nguồn trong nước (nếu có) là yếu tố điều chỉnh giá trong hợp đồng mua bán xăng dầu giữa thương nhân bán buôn và thương nhân sản xuất xăng dầu; được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền khối lượng. Phí bảo hiểm bao gồm mức giá tối đa của xăng từ nguồn trong nước không cao hơn giá bình quân chung của thế giới trong công thức tính giá xăng từ nguồn trong nước nhân (x) với mức thuế nhập khẩu ưu đãi thấp nhất của mặt hàng. Xăng dầu thực hiện nghĩa vụ quốc tế (trường hợp thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu ưu đãi thấp nhất cao hơn 0%).

Phí bảo hiểm và chi phí vận chuyển dầu thô từ nhà máy lọc dầu trong nước đến cảng (nếu có) được kiểm tra, đánh giá lại, điều chỉnh định kỳ 6 tháng và báo cáo Bộ Công Thương để áp dụng.

Thuế, phí và các khoản khấu trừ khác được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.

+ Các yếu tố về giá, bao gồm giá dầu thế giới, chi phí thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), chi phí thương mại cố định, lợi nhuận cố định, tỷ lệ trích lập Quỹ Bình ổn giá thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 1 của bài viết này.

Giá cơ bản của nhiên liệu sinh học được xác định bằng (=) {Tỷ lệ phần trăm khối lượng xăng không chì (%) nhân (x) {(giá xăng thế giới cộng (+) chi phí nhập khẩu xăng không chì từ các cảng nước ngoài của Việt Nam cộng (+) chi phí của thuế nhập khẩu.) Tỷ lệ (x) xăng nhập khẩu không chì cộng (+) (giá xăng thế giới cộng (+) phí bảo hiểm cộng (+) chi phí vận chuyển dầu từ nhà máy lọc dầu trong nước đến cảng (nếu có)) nhân (x) tỷ lệ của sản xuất xăng không chì của xăng từ sản xuất trong nước)} cộng (+) Tỷ lệ phần trăm thể tích nhiên liệu etanol (%) nhân với (x) giá etanol nhiên liệu} cộng (+) chi phí kinh doanh đã đánh giá cộng (+) mức trích lập Giá dầu Quỹ Bình ổn cộng (+) +) Lợi nhuận danh nghĩa cộng (+) Chi phí thuế, phí và các khoản khấu trừ khác theo quy định của pháp luật.

Về rà soát, điều chỉnh các yếu tố giá cơ sở: Định kỳ hàng quý, thương nhân đầu mối thu mua xăng dầu gửi Bộ Công Thương và Bộ Tài chính báo cáo chi tiết sản lượng dầu xuất bán cho từng loại từ tháng thứ 21 trở đi. tháng đầu tiên của quý đến ngày 20 tháng cuối quý. 21. Hàng tháng, thương nhân bán buôn dầu có trách nhiệm gửi báo cáo về giá etanol mua trên thị trường trong nước. etanol nhập khẩu, sản lượng etanol thu mua trong nước nhập khẩu gửi Bộ Công Thương, Bộ Tài chính … Thương nhân kinh doanh xăng dầu chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu báo cáo.

Trên cơ sở báo cáo của các thương nhân đầu mối, Bộ Tài chính tổng hợp, kiểm soát, đánh giá, khảo sát thực tế để xem xét, quyết định chi phí vận chuyển dầu từ nước ngoài về Việt Nam và các cảng cao cấp. Đối với nguồn nội địa, chi phí vận chuyển dầu từ nhà máy lọc dầu trong nước đến cảng, tiêu chuẩn chi phí thương mại và thông báo cho Bộ Công Thương để áp dụng trong công thức giá cơ sở.

Người giới thiệu:

1. chính phủ, quy định của chính phủ không. 83/2014 / NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 về kinh doanh dầu mỏ;

2. Chính phủ, dự thảo quy chế sửa đổi một số điều của Chính phủ Quy chế số. 83/2014 / NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 về kinh doanh dầu mỏ, Chinhphu.vn;

3. https://www.moit.gov.vn/; https://mof.gov.vn.


Vậy là bạn đã có thêm nhiều thông tin về chủ đề Xây dựng Dự thảo liên quan đến cơ chế điều hành giá về kinh doanh xăng dầu rồi nhé. Taosao.info tin rằng bạn đã có nhiều kiến thức hữu ích rồi đó. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm tin tức kinh doanh khác thì bạn có thể xem thêm tại đây nhé: Xem tại đây.

Từ khoá liên quan đến chủ đề Xây dựng Dự thảo liên quan đến cơ chế điều hành giá về kinh doanh xăng dầu

#Xây #dựng #Dự #thảo #liên #quan #đến #cơ #chế #điều #hành #giá #về #kinh #doanh #xăng #dầu.

Chân thành cảm ơn bạn đã đọc tin tại website taisao.info nhé.

Nguồn: tapchitaichinh.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *